Ý kiến khách hàng

Gián Đức Loài côn trùng gây hại khó tiêu diệt

Gián ĐứcTên khoa học: Blatella germanica Linné

Họ: Blattellidae

Bộ: Blattodea

Phân bố và tác hại

    Loài này có khắp thế giới, ở nước ta có loại gián này. Nó hoạt động trong nhà, trong kho nông sản, dược liệu, len dạ,... Nó ăn hại lương thực, cắn hỏng len dạ, tơ sợi, ngoài ra nó còn làm cho sản phẩm có mùi hôi rất khó chịu, làm giảm giá trị thương phẩm và giá trị sử dụng.

Đặc điểm hình thái

    Dạng trưởng thành: Mình dài 12 - 14 mm, là loại nhỏ nhất trong 4 loài gián thông thường, màu vàng tối. Ngực trước hình phiến thuẫn, có 2 đường vân dọc tối, con đực màu nhạt hơn, hơi nhỏ hơn con cái, hình chiếc thuyền. Mảnh lưng đốt thứ 10 hơi mảnh và dài, cánh không che phủ, con cái đoạn sau hơi rộng, hình tròn. Mảnh lưng đốt thứ 10 hình tam giác, chính giữa mép sau hơi lõm, cánh che kín, túi trứng dài 7 mm, cao 3 mm màu nâu, hình chữ nhật, túi trứng dẹt hơn các lòai gián khác.

    Trứng: hình bầu dục tròn, dài 1 - 1,5 mm, rộng 0,6 - 1 mm, màu vàng trắng, vở không nhẵn bóng.

    Sâu non: Khi đẫy sức dài 10 - 15 mm, màu sắc thân mình có màu tối, đôi khi gần như màu đen. Đoạn trước thân mình có 2 đường vân màu đen.

Đặc tính sinh vật học

    Hoạt động nhanh nhẹn, sợ ánh sáng, đẻ nhiều trứng và thời gian thực hiện vòng đời rất ngắn, vì thế rất khó tiêu diệt. Ở 350C và độ ẩm 50 - 90 % nghiên cứu vòng đời cho thấy muốn hoàn thành 1 lứa cần 3 tháng. Thời gian trứng 4 ngày, sâu non lột xác 7 lần. Con đực sống được 60 ngày, con cái sống được 65 ngày. Điều kiện trong phòng một năm sinh 2 - 3 lứa, một túi trứng có 18 - 50 trứng, mỗi con cái đẻ được 4 - 5 túi trứng. Quá trình phát dục rất cần nhiều khí ẩm. Thích sống nơi ẩm tối như gầm kho, dưới vật kê lót kho.

  Biện pháp phòng chống và diệt gián Đức :

Biện pháp phòng, chống gián quan trọng và cần thiết nhất là cải tạo môi trường sống như thường xuyên dọn dẹp vệ sinh sạch sẽ nhà cửa và làm giảm nơi trú ẩn của chúng.

- Gián Đức có sức đề kháng rất cao, khi phun xịt hóa chất côn trùng nhiều lần chúng rất dễ bị lờn thuốc. Do đó cách diệt trừ gián hiệu quản nhất là sử dụng các lạo Gel ( bả ) diệt gián Đức chuyên dụng như : Clean Bait PowerMaxforce FC...

- Khi phát hiện ra các vị trí có gián Đức xuất hiện thì phải tìm hiểu kỹ để xác định vị trí ổ mới diệt được hoàn toàn trứng và các con non.

Mọt gạo gây hại cho kho bảo quản nông sản


Mọt gạo    Tên khoa học: Sitophilus oryzae Linné

Họ: Curculionidae

Bộ: Coleoptera

Phân bố và tác hại

Nhiều nguồn tài liệu đều xác nhận mọt gạo phân bố hầu khắp thế giới. Ở các nước nhiệt đới và á nhiệt đới trong các sản phẩm ngũ cốc đều gặp mọt này. Ở nhiều nước, mức độ phổ biến của mọt gạo còn rộng hơn mọt thóc rất nhiều. Có thể mọt gạo có nguồn gốc từ Ấn Độ.

Đối với lương thực bảo quản trong kho ở nước ta, mọt gạo được xếp vào loại sâu hại nguy hiểm số một. Bởi vì mọt gạo ăn hại tất cả các loại lương thực, mọt gạo sinh sản rất nhanh, có khả năng thích nghi rộng với các điều kiện ngoại cảnh khác nhau, thời gian sống dài hơn các loại mọt khác.

Ngoài lương thực, hầu hết các hàng từ thực vật như đậu đỗ, hạt có dầu, dược liệu, các loại quả khô,… đều bị mọt gạo ăn hại.

Theo kết quả điều tra, ở tất cả các vùng ở nước ta đều thấy mọt gạo, tất cả các tháng trong năm đều thấy có mọt này, và sự biến động về số lượng giữa các tháng trong năm không đáng kể.

Mọt có vòi nhọn, khi ăn hại, nó dùng vòi đục một lỗ nhỏ, đẻ trứng vào vật bị hại, sâu non phát triển trong đó, ăn hại làm cho sản phẩm chỉ còn lại một lớp vỏ mỏng, không còn giá trị sử dụng nữa.

Đặc điểm hình thái

Dạng trưởng thành: Thân dài 3 – 4 mm, rộng 1,0 – 1,2 mm, toàn thân màu nâu xám đen, trên đầu có vòi nhô dài ra. Râu hình đầu gối có 8 đốt. Trên mảnh ngực trước có những đốm tròn nhỏ lõm vào. Trên cánh cứng có những đường dọc lõm cũng có những điểm tròn. Trên lưng cánh cứng gần đầu và gốc cánh có 4 vòng gần tròn màu vàng nâu hay đỏ nâu trông rất rõ. Ở dưới cánh cứng có màng phát triển.

Con đực có vòi ngắn và to hơn con cái, trên mặt lưng chấm lõm dài và rõ hơn con cái. Ngoài ra trên vòi con cái không có chấm lõm ở đoạn cuối.

Trứng: Dài 0,45 – 0,70 mm, rộng 0,24 – 0,30 mm, hình bầu dục dài, một đầu có hình nuốm phình ra. Lúc mới nở màu trắng sữa, dần dần biến thành màu vàng nhạt, đục.

Sâu non: Trưởng thành mình dài 2,5 – 3,0 mm, đầu nhỏ màu nâu nhạt, ngực và bụng màu trắng, trên mình có nhiều đường vân ngang. Thân mập, ngắn, thường cong lại làm cho mặt lưng thành hình bán nguyệt. Mặt bụng gần như bằng, có màu trắng đục.

Nhộng: Thân dài 3,5 – 4,0 mm, hình bầu dục, lúc mới hóa nhộng màu trắng sữa, sau thành màu nâu nhạt.

Đặc tính sinh vật học

Mọt hoạt bát. Có tính giả chết, thích bò lên cao và phía ngoài các bao nông sản, bay được khá tốt. Mọt có thể sinh sôi nảy nở trong kho và cả ngoài đồng. Khi đẻ trứng, dùng vòi có hàm trên ở phía đầu vòi khoét một lỗ, sau đó đẻ trứng vào lỗ này và dùng ống đẻ trứng tiết ra một chất nhầy bảo vệ trứng và bịt kín lỗ lại. Mỗi lần đẻ 1 quả, có khi 2 – 3 quả (Provett, 1960). Thời gian để đẻ 1 quả trứng tùy thuộc vào độ cứng của nông sản, thường mất khoảng 1/2 đến 2 giờ. Mỗi con mọt cái một ngày có thể đẻ được 3 – 10 trứng, mỗi năm bình quân đẻ 380 trứng, nhiều nhất có thể để tới 576 trứng. Từ một đôi mọt đực và mọt cái, nếu sống trong điều kiện thích hợp, theo tính toán trong một năm có thể sinh sôi, nảy nở thêm 800.000 con khác.

Sâu non nở ra là bắt đầu ăn hại, đục sâu vào trong lòng hạt, làm cho hạt chỉ còn lại lớp vỏ bên ngoài, không còn giá trị sử dụng nữa. Ở vùng nhiệt đới mỗi năm sinh 4 – 7 lứa. Ở vùng ôn đới, khí hậu lạnh mỗi năm chỉ sinh 1 – 2 lứa. Thời kỳ trứng 3 – 16 ngày, sâu non 13 – 28 ngày, tiền nhộng 1 – 2 ngày, nhộng 4 – 12 ngày, trưởng thành 54 – 311 ngày. Sâu non có 4 tuổi: tuổi 1 đến tuổi 3 từ 3 – 4 ngày, tuổi 4 từ 4 – 9 ngày.

Thời gian hoàn thành một thế hệ mọt gạo phụ thuộc rất chặt chẽ vào độ nhiệt, độ ẩm và thức ăn. Theo kết quả nghiên cứu thì thấy: trong lương thực có thủy phần 14% và độ nhiệt 200C thì thời gian hoàn thành một thế hệ mọt gạo khá dài, trong lúa mì 53 ngày, trong thóc 60 ngày. Khi độ nhiệt tăng dần đến 280C thì thời gian hoàn thành một thế hệ rút ngắn lại. Tăng độ nhiệt từ 28 lên 300C, thời gian hoàn thành một thế hệ gần như không thay đổi: trong lúa mì là 38 ngày, trong thóc và ngô khoảng 40 – 41 ngày, còn trong khoai sắn lát khô trên 50 ngày. Độ nhiệt tăng tới 320C tốc độ sinh sản giảm, thời gian hoàn thành một thế hệ kéo dài: trong lúa mì, thóc và ngô tới 53 – 54 ngày, trong khoai khô 71 ngày, và trong sắn khô 90 ngày. Ở 340C nói chung sự sinh sản khó khăn.

Thời gian hoàn thành một thế hệ phụ thuộc chặt chẽ vào thủy phần của hạt. Khi thủy phần của hạt tăng thì thời gian hoàn thành một thế hệ mọt giảm. Sự phụ thuộc này không theo dạng đường thẳng, mà theo dạng hàm số bậc hai. Khi trong lúa mì, ngô, thóc và sắn lát có thủy phần 11,5% trứng mọt vẫn còn khả năng nở và trở thành mọt, nhưng thời gian hoàn thành một thế hệ trên 70 ngày. Riêng trong khoai khô, với thủy phần này, mọt không sinh sản được. Khi thủy phần của hạt tăng tới khoảng 14,3 % thời gian hoàn thành một thế hệ rút ngắn dần, nhưng nói chung tốc độ chuyển hóa các giai đoạn ấu trùng thành mọt vẫn còn chậm. Với thủy phần lương thực từ 15 % trở lên thì mọt nở khá nhanh.

Mọt gạo hoạt động mạnh nhất ở độ nhiệt 24 – 300C, trong đó thích hợp nhất là độ nhiệt 290C. Ở dưới 130C và trên 380C mọt sẽ ngừng hoạt động. Theo Cotton thời gian thực hiện một thế hệ ở 27,20C chỉ mất 25 ngày, còn ở 170C mất tới 92 ngày. Độ ẩm tương đối của không khí thích hợp nhất đối với sự phát triển của mọt gạo khoảng 90 – 100 %, độ ẩm cần thiết của sự đẻ trứng thấp nhất khoảng 60 %. Mọt không thể sinh sản ở hạt có thủy phần dưới 8 % và trên 40 %, thủy phần tối thiểu, cần thiết cho sự sinh sản là 10 %, tốc độ sinh sản mạnh nhất là khi thủy phần của hạt từ 15 – 20 %, trong đó thích hợp nhất khi thủy phần hạt là 17 %, quá 20 % thủy phần thì sự sinh sản chậm lại.

Theo tài liệu của Nhật Bản, gạo có thủy phần 17,6 %, nuôi sau 58 ngày ở các độ nhiệt khác nhau, kết quả sinh sản như sau:

- Ở 300C, số mọt ban đầu 10, về cuối 49, tỉ lệ sinh sản tăng 390 %. Số sâu non tăng 1.130 %.

- Ở 200C, số mọt ban đầu 10, về cuối, tỉ lệ sinh sản tăng 110 %. Số sâu non tăng 380 %.

- Ờ 100C, số mọt ban đầu 10, về cuối 12, tỉ lệ sinh sản tăng 20 %. Số sâu non giả 30 %.

- Ở 00C, số mọt ban đầu 10, về cuối 7, giảm 30 %. Số sâu non giảm 70 %.

Mọt gạo có khả năng nhịn ăn, thời gian nhịn ăn phụ thuộc chủ yếu vào độ nhiệt, có thể từ 6 - 12 ngày. Khi độ nhiệt tăng thì thời gian nhịn ăn giảm. Thời gian nhịn ăn của mọt gạo khi độ ẩm không khí 80 - 90 %, ở độ nhiệt 16 - 180C là 32 ngày, ở 20 - 250C là 19 ngày, ở 26 - 270C là 6 - 8 ngày.

Mọt gạo trung bình sống khoảng 180 – 200 ngày. Thời gian sống của mọt gạo phụ thuộc chủ yếu vào độ nhiệt và thủy phần của hạt. Bảng: Thời gian sống của mọt gạo các trong thủy phần khác nhau của hạt ở độ nhiệt 25 – 270C

Tư vấn và khảo sát miễn phí mời liên hệ hotline: 0904 813 959

Mọt thuốc lá


Mọt thuốc láTên khoa học: Lasioderma serriconne Fabricius

Họ: Anobiidae

Bộ: Coleoptera

Phân bố và tác hại

Mọt này phân bố khắp thế giới. Ở các vùng của nước ta đều gặp mọt này. Có tài liệu nói rằng mọt này làm thiệt hại thuốc lá nói chung tới 5 % ở Philipin, hàng năm mọt này gây thiệt hại lớn tới thuốc lá. Ngoài thuốc lá mọt này còn phá hại chè, dược liệu, quả khô, cá khô, hạt có dầu, tiêu bản động vật, tài liệu, sách báo, có khi gặp chúng trong các kho lương thực. Nói chung nó là loài sâu hại có tính ăn rất rộng, nó gây thiệt hại rất lớn cho thuốc lá, còn đối với các sản phẩm khác, thiệt hại về số lượng do nó gây ra không lớn lắm.

Đặc điểm hình thái

    Dạng trưởng thành: Mọt đực dài 2,5 mm, mọt cái dài 3,0 mm, hình bầu dục ngắn. Chiều dài của thân thường lớn gấp đôi chiều rộng. Nếu nhìn chính diện, có dạng hình trứng, nhìn lập thể là hình cầu, và nhìn nghiêng có dạng vồng lên như lưng lạc đà.

    Thân màu hồng nâu, có ánh, có nhiều lông nhỏ màu nâu nhạt. Mép sau ngực trước và gốc cánh cứng cao lên trông thấy rất rõ. Đầu lớn thành hình bán cầu, rụt vào dưới ngực trước, vì vậy nếu nhìn từ mặt lưng không thấy đầu. Râu hình răng cưa vó 11 đốt, thường xếp ở phía bụng của đầu, không chìa ra như các loài sâu hại khác.

    Nhìn phía lưng ngực trước thấy mép trước hình thành hình bán cầu, nhìn một bên thấy mép sau cao nhô lên hướng về phía trước, cong về phía sau, nói chung nhìn ngực trước cong úp lại. Nhìn phía lưng cánh cứng thấy gốc cánh và mép sau ngực trước khít lại hình như nối tiếp nhau, đầu cánh cứng hình lượn tròn. Nhìn mặt nghiêng của cánh cứng thấy gốc cánh cao nổi lên và thấp dần về phía đầu cánh. Trên cánh cứng có nhiều điểm nhỏ.

    Trứng: Dài 0,4 – 0,5 mm, hình bầu dục dài, màu vàng trắng nhạt. Vỏ trứng hơi nhẵn, nhưng một đầu có điểm nhỏ lồi lên.

    Sâu non: Khi mới nở đạt 0,55 mm, rất khác so với sâu non khi đẫy sức, thân mình thẳng và hoạt bát, nhưng khi lớn hoạt động giảm dần và thân ngắn lại. Khi đẫy sức thân dài 4,0 mm, thân cong lại và trở thành có hình chữ C, có vân nếp nhăn, đường kính các đốt gần như bằng nhau, thân màu vàng trắng nhạt, trên mình có nhiều lông rất nhỏ, dài màu vàng kim. Đầu màu vàng nhạt, không có mắt. Trên mình có nhiều đường vân ngang. Mảnh cứng ngực trước màu nâu, 3 đốt ngực trước nở to, đốt bụng cuối cùng lượn cong. Chân có 4 đốt, đoạn ngọn có 1 móng uốn cong. Lỗ thở có dạng hình tròn tới hình trứng.

    Nhộng: Dài 3 mm, rộng 1,5 mm, màu trắng sữa. Mặt sau lưng màu vàng nâu, có ánh. Bụng to và mập.

Đặc tính sinh vật học

    Có nhiều tài liệu giới thiệu đặc tính sinh vật học của thuốc lá Rummer (1919), Ponell (1931) và Staruatinis (1935) đã nghiên cứu kỹ và đóng góp nhiều tài liệu. Houe và những cộng tác viên của ông đã tổng kết thành những tài liệu về mọt thuốc lá, có thể tóm tắc như sau:

    Mọt không thích ăn, ưa ánh sáng yếu, độ sáng khoảng 50 lux có sức thu hút mọt rất mạnh, nó hoạt động rất mạnh dưới ánh sáng mờ nhạt. Ở điều kiện 250C và ẩm độ 70 %, con cái sống 31 ngày, con đực 28 ngày, nói chung chỉ bay lúc hoàng hôn và ban đêm, ở trong phòng sau 14h và 2h mọt bay lượn.

    Từ kén đến nở ra mọt sau 3 ngày thì giao phối, đẻ trứng. Ở 250C đẻ ít nhất 103 trứng, nhiều nhất 126 trứng. Ở 300C, với độ ẩm cao, thời gian trứng khoảng 6 ngày, sâu non lột xác 4 lần. Thời gian tuổi từ 1 – 4, trung bình với số ngày là: 3,9; 3,7; 4,7 và 6, cộng lại là 19,2 ngày và thời gian nhộng là 3,8 ngày. Thời gian thực hiện vòng đời trong cùng một điều kiện như vậy là 29,1 ngày. Trong kho ở Anh, mỗi năm có một lứa.

    Trong điều kiện nước ta, mọt thuốc lá mỗi năm sinh 3 – 6 lứa. Một vòng đời 44 – 70 ngày, thời kỳ trứng 6 – 10 ngày, sâu non 30 - 50 ngày, nhộng 8 - 10 ngày. Mỗi con cái một đời đẻ được 10 – 100 trứng, thường đẻ rải rác mỗi nơi một trứng, đẻ trên đống lương thực, trong kẽ bao bì, trên gân thuốc lá hay kẽ lá. Mọt có thể sống được 18 – 40 ngày, thích ở nơi tối, nó hoạt động mạnh vào ban đêm và những ngày râm mát, những ngày nắng nó không hoạt động. Mọt bay, bò khỏe và có tính giả chết.

    Theo Zaklatnôi (Liên Xô) trong điều kiện thích hợp, mọt có thể phát triển quanh năm. Ở độ nhiệt 550C, mọt và sâu non chết sau 2 giờ. Ở -50C đến -100C, tất cả các giai đoạn phát triển của mọt thuốc lá chết trong 3 ngày, còn ở -3,90C, chết trong 7 ngày. 

Giải pháp hiệu quả cho loại côn trùng này là dùng bẫy mọt thuốc lá  với cơ chế dùng pheramone dẫn dụ và dính mọt vào tấm keo dính tiện lợi và không gây độc hại cho môi trường

Tư vấn và khảo sát miễn phí mời liên hệ hotline: 0904 813 959

Mọt râu dài


Mọt râu dàiTên khoa học: Cryptolestes minutus Olivier

Họ: Curculionidae

Bộ: Coleoptera

Phân bố và tác hại

    Mọt này có ở khắp nơi trên thế giới, các vùng ở nước ta đều có mọt này. Nó ăn hại lương thực, nhất là lương thực bảo quản lâu ngày, đã bị ẩm ướt vỡ nát, mọt còn ăn hại dược liệu và nhiều loại sản phẩm khác.

Đặc điểm hình thái

    Dạng trưởng thành: Thân dài 2 mm, dài và dẹt, dài gấp 3,5 lần rộng, màu nâu sẫm có nhiều lông nhỏ màu vàng trắng. Đầu gần giống hình tam giác. Râu con đực hình sợi dài nhỏ có 11 đốt, râu con cái hình tràng hạt có 11 đốt. Độ dài của râu con đực bằng 2/3 độ dài của thân, râu con cái dài bằng 1/2 độ dài của thân. Ngực trước thành hình thang, mép ngực trước rộng hơn mép ngực sau, độ rộng của mép ngực sau bằng độ dài của ngực. Gốc của mép ngực sau gần thành góc vuông. Hai bên ngực ở gần mép có 2 đường chạy thẳng, nổi lên trông rất rõ. Độ dài của cánh cứng gấp 1,5 lần độ rộng, trên mỗi cánh cứng có 5 – 6 đường chạy dọc.

Trứng: Dài 0,4 – 0,5 mm, rộng 0,1 - 0,2 mm, hình bầu dục màu vàng sữa.

Sâu non: Khi đã lớn dài 3 mm, đầu dẹt, hình bán cầu màu hồng nâu, ở giữa đầu có đường chỉ sọ hình chữ bát. Râu ngắn nhỏ, có 3 đốt, đốt thứ 2 dài nhất, đốt thứ 3 rất nhỏ. Thân màu hồng nâu nhạt, các đốt gần đuôi màu tương đối đậm hơn và to mập hơn. Trên thân có lác đác những lông nhỏ màu vàng trắng nhạt. Ở hai bên mỗi đốt đều mọc 2 lông màu vàng trắng nhạt.

Nhộng: Dài 1,5 – 2 mm, rộng 0,8 – 1 mm, hình bầu dục đầu tròn và thon dần về phía đuôi. Toàn thân màu vàng nâu, đầu màu nâu đen.

Đặc tính sinh vật học

Mỗi năm sinh 3 – 6 lứa, về mùa hạ mọt hoàn thành vòng đời trong khoảng 24 – 25 ngày. Thủy phần của lương thực thích hợp nhất với mọt là 15 – 16 %.

Ở độ nhiệt 12 – 140C mọt không phát triển được. Ở 16 - 180C, thực hiện một vòng đời mất 106 ngày, ở 20 – 230C mọt có thể thực hiện 4 lứa trong một năm.

Ở độ ẩm 80 – 85% và độ nhiệt 12 – 140C, mọt có thể nhịn ăn 70 ngày, còn ở 16 – 180C nhịn được 62 ngày, và ở 25 – 270C chỉ nhịn được 20 ngày.

Ở 00C mọt có thể sống được 112 ngày, còn ở 50C chỉ sống được 32 ngày. Khi độ nhiệt cao tới 500C tất cả giai đoạn phát triển của mọt chết sau 190 phút, ở 550C là 25 phút, còn ở 600C chỉ cần sau 10 phút đã chết 

Tư vấn và khảo sát miễn phí mời liên hệ hotline: 0904 813 959

Trụ sở chính:

Địa chỉ:  Số 44, ngõ 12, Đường Khuất Duy Tiến, quận Thanh Xuân, Hà Nội.
Điện thoại: 024.35690353            -          Fax: 024.35690354.
E.mail: tcfchanoi@gmail.com
        -       Website: tcfchanoi.vn

Văn phòng chi nhánh:

VP Hải Phòng: Số 151,Bùi Thị Tự Nhiên,Đông Hải,Hải An,Hải Phòng

VP Gia Lâm: Số 9, ngõ 55, đường Cổ Bi, Cổ Bi, Gia Lâm, Hà Nội.

VP Xuân Mai: Tiểu khu Liên Sơn, Lương Sơn, Hòa Bình.

VP Hưng Yên: Thôn Linh Hạ, Nhật Tân, Tiên Lữ, Hưng Yên.

VP Đông Anh: Thị trấn Đông Anh, Đông Anh, Hà Nội